- Nam cực và Bắc cực hiện nay đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ :
- Con người từng cho rằng, Nam Cực và Bắc Cực quanh năm bị bao phủ bởi băng tuyết, khí hậu khắc nghiệt, là vùng đất bình yên. Nhưng cùng với các hoạt động hàng ngày của con người như săn bắt, du lịch , khảo sát khoa học... hai vùng đất bình yên này đang ngày càng gặp nguy hiểm.
- Khi châu Nam Cực bước vào mùa đông, ngày càng nhiều người đi du lịch ở Bắc bán cầu vì muốn "tránh nóng " mà tìm tới đây, điều này khiến sinh thái ở Nam Cực bị tổn thương nghiêm trọng. Cả nhà du lịch hoặc trượt tuyết , hoặc ngồi xe trượt băng , tới những nơi dựng lều trại của các nhà thám hiểm năm xưa. Một số con tàu du lịch cập bờ rồi rơi đi hàng ngàn lần bên những núi băng. Một khi núi băng bị vỡ thì thảm kịch "Titanic" rất có khả năng tái diễn. Mà nếu nhiên liệu trên tàu bị rò rỉ ra ngoài thì sẽ gây ô nhiễm cho nước vùng Nam Cực.
- Cư dân chủ yếu ở Nam Cực , các nhà khoa học và các nhân viên thám hiểm cắm trại để khảo sát khoa học, mặc dù số lượng rất nhỏ nhưng đã để lại một lượng lớn rác thải. Tháng 2 năm 2001, nhân viên khảo sát khoa học New Zealand đã tìm thấy vết dầu bị loang dầu , độ rộng lên tới hơn 100 m vuông , đây là rác thải của một trạm nghiên cứu Hoa Kỳ bỏ lại từ năm 1973.
- Những cuộc săn bắn vô tội vạ đã gây ra một tai nạn khủng khiếp đối với loài gấu Bắc Cực. Những năm 50 của thế kỷ trước, Liên Xô đã đặt ra luật pháp cấm săn bắt gấu Bắc Cực. Nhưng cùng với sự tan rã của Liên Xô, luật cấm săn bắn cũng khó có thể chấp hành . Các tổ chức ngư nghiệp và bảo vệ động vật hoang dã của Mỹ kêu gọi : Số lượng gấu Bắc Cực chỉ còn hơn 4000 con, nếu mỗi năm săn bắt 180 con, vậy thì chưa đầy 20 năm , số lượng này sẽ giảm xuống còn một nửa. Tới khi đó, nó sẽ trở thành một trong những loài vật đứng trước nguy cơ tuyệt chủng .
- Làm thế nào để bảo vệ hai vùng đất đã từng rất bình yên này, có lẽ con người sẽ phải suy nghĩ thật kỹ vấn đề này.
Thứ Hai, 29 tháng 9, 2014
Nguy cơ mà Nam cực và Bắc cực phải đối mặt
Nước từ đâu tới
- Khi bề mặt trái đất ược vệ tinh chụp ảnh lại và gửi về trái đất , quả địa cầu trước mặt mọi người là một thể cầu được bao phủ bởi màu xanh lam. Qua nghiên cứu đã phát hiện ra, phần có màu xanh lam này chính là nước trên trái đất. Các nhà khoa học đã sử dụng các máy móc tối tân, hiện đại để trắc nghiệm và phát hiện ra lượng nước trên bề mặt trái đất chiếm tới trên 70 % diện tích trái đất. Nhiều nước như thế từ đâu mà ra nh3i . Các nhà khoa học đã nêu ra rất nhiều giả tưởng , trải qua nhiều nghiên cứu , có ba giả thiết được mọi người chấp nhận.
- Thứ nhất là "Thuyết không khí nguyên thủy". Cho rằng khi trái đất vừa mới hình thành, vỏ trái đất có màu đỏ cam, bề mặt trái đát cô cùng nóng và luôn ở trong trạng thái nhiệt độ cao , nước ở dạng lỏng hoàn toàn không thể tồn tại, chỉ có thể biến thành hai nước và phân bố trong tầng khí quyển nguyên thủy. Sau đó bề mặt trái đất nguội dần, nhiệt đột giảm xuống dưới 100 độ (ranh giới giữa nước dạng lỏng và nước bốc hơi ), nước dạng hơi trong bầu khí quyển bắt đầu ngưng tụ lại thành nước dạng lỏng, tạo thành các cơn mưa. Trải qua hàng vạn năm, những nơi có địa hình thấp trên trái đất đều tích tụ đầy nước, hải dương cũng hình thành từ đó. Các nhà khoa học tin vào giả thuyết này đã lợi dụng các máy móc để đo đạc và tìm ra đá trầm tích cổ xưa nhất trên thế giới. Cách ngày nay khoảng 3,5 tới 3,8 tỷ năm. Qua khảo chứng, đá trầm tích này là do dòng nước xâm thực mà thành, như thế có thể chứng minh được sự tồn tại của nước, và chứng minh bề mặt trái đất có nước tồn tại đã có lịch sử 3,8 tỷ năm.
- Thuyết thứ hai là "Thuyết mắc ma ". Cho rằng trong giai đoạn đầu mới hình thành trái đất , phần lớn nước đều dưới dạng nước kết tinh nham thạch nước đã lẫn vào mắc ma và tồn tại ưới lòng đất. Khi trái đất vận động, núi lửa phun trào , nước kết tinh nham thạch bèn trào ra ngoài vỏ trái đất thông qua mắc ma qua quá trình phân giải, trở thành nước ở dạng lỏng. Do ngày nay hàng năm vẫn có núi lửa phun trào, lượng nước bốc hơi ở nhiệt độ cao và hòa vào tầng khí quyển lên tới 40.000 tới 50.000 tấn, khả năng nước dưới lòng đất dần dần dâng lên và hình thành những khu vực chứa nước rộng lớn.
- Gần 10 năm trở lại đây, những bộ phim với chủ đề về người ngoài hành tinh liên tục được ra mắt, mọi người đã chuyển tiêu điểm từ nguồn nước sang thế giới bên ngoài vũ trụ. Một giải thuyết thứ ba về sự hình thành nước trên địa cầu chính là nước từ vũ trụ tới . Các nhà khoa học tin vào giả thuyết này đã chỉ ra rằng : theo những tư liệu mà các vệ tinh truyền về trái đất, các huệ tinh quay xung quanh trái đất đa số đều do băng đá tạo thành, các huệ tinh này sau mỗi lần tiếp xúc với trái đất đều đưa một lượng lớn băng đá vào tầng khí quyển . Căn cứ theo tỷ lệ các huệ tinh xâm nhập vào trái đất cho tới nay để tính toán thì mỗi phút có khoảng 20 vệ tinh đi qua bầu khí quyển, có thể giải phóng ra 100 tấn nước. Mặt dù lượng nước mà các vệ tinh giải phóng ra không nhiều , nhưng do tần suất tiếp xúc với trái đất của chúng thành một thể nước khổng lồ như đại dương , đó cũng không phải điều không thể .
- Ba giả thuyết ở trên , bạn cho rằng giả thuyết nào là hợp lý ? Tren thực tế , ai cũng tin rằng giả thuyết của mình là đúng, của người khác là võ đoán. Nhưng chúng ta tin rằng , cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật , là giải đáp cho vấn đề này sẽ có một ngày trở nên rõ ràng .
Nguồn nước trên trái đất
- Mặc dù nước trên trái đất rất phong phú , nhưng nguồn nước con người có thể sử dụng được lại không nhiều. Lượng nước ngọt có hạn lại tồn tại trong các băng đá, nguồn nước ngầm , nước trên bề mặt trái đất và nước bốc hơi dưới các dạng rắn, lỏng, khí . Nước ngầm chiếm tới 22,6 % lượng nước ngọt trên trái đất, vào khoảng 8,6 triệu tỷ tấn , nhưng có tới một nữa nguồn nước ngầm nằm dưới độ sâu dưới 800 m , rất khó khai thác, hơn nữa việc khai thác nước ngầm quá nhiều có thể mang lại nhiều vấn đền. Nước ở ao hồ chiếm khoảng 0,6 % tổng lượng nước ngọt , vào khoảng 860000 tỷ tấn , là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho thực vật , động vật và con người.
- Lượng nước ngọt mà trái đất có thể cung cấp cho các sinh mệnh trên trái đất sử dụng chỉ chưa bằng ba phần một nghìn tổng lượng nước trên trái đất, do đó nguồn nước ngọt trên trái đất đang ngày càng khan hiếm .
Vai trò của sông ngòi trong hệ sinh thái
- Hàng ngàn năm nay, sông ngòi có mối quan hệ vô cùng mật thiết với loài người. Trong cuộc sống, sông ngòi đã nuôi dưỡng vô số loài động thực vật thủy sinh để bổ sung thức ăn cho con người, nguồn nước trong xanh của các con sông đã mang đi những bụi bẩm trên người và những rác thải con người thải ra trong cuộc sống về giao thông , sông ngòi đưa con người đi buôn bán, du lịch , thám hiểm,... Vì sao nó lại chảy ngày đêm không ngừng như thế ?
- Thì ra khi nước bốc hơi trong tầng mây làm mưa rơi xuống vỏ trái đất, các giọt nước chảy theo những vùng địa hình dốc , tích tụ lại ở một nơi thấp, dần dần, dòng nước chảy dần thành các con kênh, thế là sông ngòi dần hình thành . Khi llưu lượng nước ngày càng lớn, nước sông sẽ ngày đêm chảy về cùng một phương hướng, mà trong quá trình này, con sông sẽ lớn dần lên, phát huy ba vai trò của nó. Bây giờ chúng ta hãy cùng tìm hiểu vai trò của các con sông nhé.
- Thông thường mọi người đều cho rằng, nước là thứ dịu dàng nhất trên trái đất, khi gặp phải những trở ngại lớn, nó không cố luồn qua mà sẽ tìm con đường khác để chảy, có vẻ như vô cùng yếu đuối . Trên thực tế , sức mạnh của nước lại rất to lớn . Người ta vẫn nói ước chảy đá mòn , đủ để chứng minh cho sức mạnh của nó. Cho dù là hòn đá cứng rắn đến đâu thì sau quá trình xâm thực từng chút một của nước, không những có thể để lại những đường vân rất sâu mà thậm chí còn có thể cắt đôi hòn đá, do đó , tuyệt đối không được coi thường sức mạnh của nước.
- Sức mạnh xâm thực của sông ngòi lớn như thế nào ? Vậy thì phải xem tính chất của đá , tốc độ dòng chảy của nước thì mới biết được. Thông thường, những hòn đá hoặc lớp đất xốp thì tốc độ bị xâm thực tương đối nhanh, còn về tốc độ dòng chảy, ở phần thượng lưu sông đa số đề chảy qua những ngọn núi nên tốc độ chảy rất nhanh, vùng hạ lưu sông đa số là đồng bằng nên tốc độ chậm hơn, khả năng xâm thực ở phần thượng lưu thì mạnh, phần hạ lưu thì yếu.
- Sau khi các dòng sông lợi dụng tốc độ để xâm thực đá, vì vai trò xâm thực nên những lớp bùn bị bóc ra, sau đó được nước chuyển xuống vùng hạ lưu. Các hạt bùn ngày càng nhỏ , chất đất ngày càng nhẹ , khả năng nổi trên mặt nước ngày càng lớn, cơ hội bị nước mang đi cũng càng nhiều. Do đó, những dòng sông có dòng chảy lớn thì những hạt bùn mang đi không chỉ là hạt nhỏ mà còn có thể là các hạt bùn lớn hơn .
- Khi những dòng chảy mang theo bùn đất chảy vào vùng đồng bằng hạ lưu sông với tốc độ lớn , vì địa hình bằng phẳng và rộng rãi nên dòng chảy chậm dần, không thể mang bùn đất đi được nữa, do đó bùn đất sẽ chìm xuống lòng sông, những con sông có hàm lượng phù sa cao như Hoàng Hà, mỗi năm vì vai trò của sông ngòi mà mang đi khoảng 600 triệu tấn bùn đất từ vùng thượng lưu .
- Thực ra khi thực thi vai trò của mình sông ngòi không phân chia rành rọt như thế, thông thường nó sẽ đồng thời thực hiện cả ba vai trò của mình. Ở thượng lưu sông, mặc dù chủ yếu nước chỉ có vai trò xâm thực, nhưng đồng thời cũng có va trò tích tụ, tương tự, ở hạ lưu sông, mặc dù chủ yếu có vai trò tích tụ, nhưng đồng thời cũng có khả năng xâm thực nhất định, vai trò vận chuyển thì luôn luôn được thực hiện cho tới khi ra tới cửa biển .
- Vai trò của sông ngòi đã là một hiện tượng tồn tại tự nhiên từ trước khi con người xuất hiện, không vì con người mà thay đổi . Làm thế nào để có cái nhìn chính xác về vai trò của sông ngòi để có thể lợi dụng những vai trò này, mang lại lợi ích cho con người .
Những đặc sắc sông ngòi ở Đài Loan
Sông ngòi ở Đài Loan có những đặc sắc gì ? Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu :
- Sông ngòi ở Đài Loan : chủ yếu bắt nguồn từ các dãy núi trung tâm, đa số phân bố ở phía Tây, các con sông không dài lắm, dòng chảy xiết, không thích hợp cho thuyền bè đi lại
- Sông ngòi phía Tây Đài Loan : 3 con sông chính từ lớn tới nhỏ lần lượt là : Trọc Thủy Khê, Cao Bình Khê, Đạm Thủy Hà.
- Sông ngòi phí Đông Đài Loan : chủ yếu là Lan Dương Khê (đồng bằng Lan Dương ), Tú Cô Sơn Khê (thuyền bè có thể đi lại )và Ti Nam Khê.
Hình dạng của các con sông trong thiên nhiên
- Giở bản đồ Trung Quốc ra, men theo các dòng sông quan trọng của các tỉnh để tìm hiểu về các thành phố ven sông, sẽ phát hiện ra một hiện tượng rất thú vị: sông Mẫn của Phúc Kiến và các nhánh sông của nó có hình kẻ ca rô, sông Giai Lăng của Tứ Xuyên và nhánh sông của nó có hình giống chiếc lá, còn sông Hoài và các nhánh sông chảy về Bắc tạo thành những đường thẳng song song .
- Vì sao cùng là sông, cũng có ba vai trò lớn là xâm thực, vận chuyển và tích tụ , các dòng sông chính và nhánh sông lại có hình dạng khác nhau như thế ?
- Các dòng sông chịu sự tác động của lực trái đất, tự nhiên chảy theo địa hình trái đất từ cao xuống thấp. Các dòng nước tạo thành mạng lưới sông ngòi , đa số thường có mấy trường hợp sau :
- Khi các dòng sông chảy xuyên qua khu vực đồng bằng, vì địa hình bằng phẳng , thổ nhưỡng ở đây khá gần với vật chất, cấu tạo tầng đá, lực xâm thực của các dòng sông được phát huy mạnh mẽ. Do đó lòng sông dài ra, khiến dòng nước cũng dài hơn; lòng sông sâu hơn khiến lượng nước tích tụ trong sông không ngừng lớn lê. Hai điều này phối hợp với nhau khiến dòng chảy chính dần dần nhận thêm nhiều nhánh chảy nhỏ. Thông thường các nhánh sông thường dần dần nhập vào dòng chảy chính. Dòng chảy chính cứ thế nhập thêm nhiều nhánh sông mới mà không theo quy tắc nào .
- Các dòng sông ở những bùng đồng bằng lớn thường có hình chiếc lá, ở một số khu vực vùng núi cũng có các dòng sông hình dạng này.
- Khi các dòng chảy đi qua khu vực núi cao, địa hình nhấp nhô, dòng chảy chịu sự ảnh hưởng của các ngọn núi, hướng chảy thay đổi .
- Còn về việc hình thành những mạng lưới sông có hình lưới bức xạ , đa số đều xảy ra ở các bồn địa, bởi vì địa hình ở các bồn địa là xung quanh cao, ở giữa thấp , các dòng sông chịu sự tác động của lực trái đất, tự nhiên sẽ chảy từ cao xuống thấp, tập trung ở giữa bồn địa. Sông ngòi ở bồn địa Tứ Xuyên là một ví dụ điển hình, ví dụ: Điểu Giang, Xích Thủy,... đều bắt nguồn từ các ngọn núi cao xung quanh bồn địa Tứ Xuyên và chảy vào lòng bồn địa , tạo thành Trường Giang Tam Hiệp nổi tiếng , chảy ra biển Đông .
- Không thể coi nhẹ hoạt động của con người tới việc hình thành hình dạng mạng lưới sông ngòi. Con người thường vì sinh tồn và tiện lợi mà thay đổi hướng chảy của sông ngòi , tạo nên những con sông nhân tạo, kênh đào nhân tạo là một ví dụ nổi bật.
- Trước khi giao thông đường bộ của con người phát triển thì giao thông đường thủy là công cụ đi lại chủ yếu. Để thuận tiện trong việc si chuyển , con người đã khai thông kênh đào, còn về hình dạng , đa số đều có hình thẳng.
- Từ đó có thể thấy, cũng là sông ngòi nhưng lại có những chiếc áo khác nhau, cũng giống như việc chúng ta mặc nhiều bộ quần áo khác nhau, mỗi bộ đều có một nét độc đáo riêng của nó.
- Hình dạng các con sông khác nhau là do nhiều nguyên nhân khác nhau và cũng gây ảnh hưởng khác nhau tới con người . Chỉ cần chúng ta có ca1ci nhìn tổng quan , biết về nguyên nhân hình thành của chúng là sẽ có thể lợi dụng và bảo vệ chúng rất tốt.
- Các dòng sông có thể không đóng vai trò thực sự thiết thực trong cuộc sống của bạn, nhưng việc bảo việc nguồn nước, giữ vệ sinh môi trường lại là trách nhiệm của mỗi người. Do đó, bảo vệ các dòng sông là trách nhiệm của mọi người, đừng ném rác bừa bãi xuống sông ngòi , các bạn nhé.
Nhánh sông lớn nhất của Trường GIang - Hán Thủy
- Trong hệ thống các dòng chảy khổng lồ của Trường GIang, bạn biết nhánh sông nào dài nhất không ? Đáp án chính là sông Hán, hay còn gọi là Hán Thủy, bắt nguồn từ một dãy núi của tỉnh Thiểm Tây
- Sông Hán là con sông nhánh lớn nhất trong lưu vực sông Trường Giang , cũng là một trong những cái nôi văn hóa của dân tộc Hán, cùng với Trường Giang, Hoàng Hà, sông Hoài, được mệnh danh là "Giag Hoài Hà Hán ". Hán Thủy có phần thượng lưu từ Đơn Giang Khẩu trở lên, lòng sông nhỏ hẹp, dài khoảng 925 km , phần trung du là từ Đơn GIang Khẩu tới Đồng Tường , lòng sông rộng hơn, nhiều bãi cát , dài khoảng 270 km, từ Đồng Tường tới Hán Khẩu là hạ lưu sông, dài khoảng 382 km , chảy có đê ngăn nước.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)